Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, ngày giỗ, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tổ tiên và mộ phần của một gia đình lớn hay một dòng họ.
Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền. Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Đạo Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ phải giữ đạo Trung, đạo Hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc.
Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Môn học nghiên cứu về gia phả là gia phả học.
Việt Nam
Tại Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc từ thời Lý Nam Đế. Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà Trần mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Trong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ.
Cấu trúc gia phả
Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải ghi từng phả hệ phát sinh từ Thủy Tổ cho đến các đời con cháu; có phần phả đồ (vẽ như một cây, từng gia đình là từng nhánh). Đối với tiền nhân có các mục: tên (tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu); con trai thứ mấy của ai; ngày tháng năm sinh, mất; vợ; học hành, thi cử, chức vụ; mộ phần; con cái; những gương sáng, di huấn, di chúc...
(Nguồn: Wikipedia tiếng Việt)